Trong giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đồng thời khởi xướng hai cuộc “cách mạng” lớn: tinh gọn bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 56-NQ/TW ngày 25/11/2024 và đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024. Đây không chỉ là hai nhiệm vụ song song mà còn gắn bó chiến lược, tương hỗ chặt chẽ với nhau. Cả hai cùng hướng tới mục tiêu xây dựng một nền hành chính hiệu quả, linh hoạt, hiện đại, tạo động lực đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Bài viết này phân tích sâu sắc mối quan hệ không thể tách rời giữa hai cuộc cách mạng, ý nghĩa của việc triển khai đồng bộ, những thách thức nếu thiếu sự phối hợp, và đề xuất giải pháp đảm bảo hai cuộc cách mạng cùng thành công rực rỡ.
Sự tương hỗ chiến lược giữa hai cuộc cách mạng
Một nền tảng, một động lực: Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy và cuộc cách mạng về khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST), chuyển đổi số (CĐS) thực chất là hai mặt của quá trình hiện đại hóa đất nước. Một mặt, tinh gọn bộ máy là nền tảng thể chế và tổ chức để các đột phá về công nghệ – số hóa được triển khai hiệu quả. Bộ máy gọn nhẹ, thông suốt giúp loại bỏ các tầng nấc trung gian, giảm thủ tục rườm rà, qua đó tạo môi trường thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ mới và thúc đẩy sáng tạo. Thật vậy, bộ máy cồng kềnh, chồng chéo không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn kìm hãm sự phát triển, khiến nhiều chủ trương, chính sách chậm đi vào cuộc sống. Muốn đổi mới sáng tạo phát huy tác dụng, trước hết bộ máy thực thi phải đổi mới, tinh gọn.
 |
Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (Ảnh: nhandan.vn) |
Ngược lại, KHCN, ĐMST và CĐS chính là động lực và công cụ để hiện thực hóa một bộ máy tinh gọn, hiệu quả. Công nghệ số giúp tự động hóa quy trình, giảm bớt nhân lực và thời gian xử lý công việc; dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định nhanh, chính xác; đổi mới sáng tạo cung cấp những mô hình quản trị hiện đại. Nhờ áp dụng mạnh mẽ các thành tựu này, bộ máy có thể “vừa giảm, vừa mạnh” – tức tinh giản biên chế nhưng vẫn nâng cao được hiệu suất và chất lượng phục vụ. Nghị quyết 57-NQ/TW đã xác định phát triển “bộ ba” KHCN, ĐMST, CĐS là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đồng thời “đổi mới phương thức quản trị quốc gia”. Điều đó hàm ý rằng việc quản trị đất nước – bao gồm tổ chức bộ máy – phải cải tiến dựa trên nền tảng số và tri thức hiện đại. Rõ ràng, nếu thiếu đi động lực công nghệ, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức khó đạt kết quả tối ưu và nếu thiếu nền tảng tổ chức phù hợp, động lực công nghệ sẽ không được giải phóng tối đa. Hai cuộc cách mạng vì thế gắn bó mật thiết, bổ sung cho nhau như nền móng và trụ cột trong công cuộc xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển.
Sức mạnh của triển khai đồng bộ
Tổng lực tạo nên nền hành chính hiện đại: Khi tinh gọn bộ máy và đột phá công nghệ, số hóa được triển khai đồng thời, chúng tạo ra hiệu ứng cộng hưởng giúp nền hành chính chuyển mình toàn diện. Bộ máy gọn nhẹ kết hợp với công nghệ số hóa sẽ hình thành nên một Chính phủ số hoạt động minh bạch, thông suốt. Thủ tục hành chính được tái cấu trúc và thực hiện trên nền tảng số giúp rút ngắn thời gian xử lý, giảm hẳn giấy tờ trung gian. Người dân, doanh nghiệp dễ dàng tương tác với cơ quan công quyền qua dịch vụ công trực tuyến, không còn cảnh “chạy qua nhiều cửa” như trước. Nhờ đó, nền hành chính phục vụ dần trở thành hiện thực, với đặc tính “hiệu lực, hiệu quả, linh hoạt, hiện đại” đúng như mục tiêu đề ra.
Đồng bộ hai cuộc cách mạng còn nâng cao năng lực thích ứng của hệ thống chính trị trước những biến động mới. Trong thời đại kinh tế số và cách mạng công nghiệp 4.0, mô hình quản trị truyền thống nếu đứng riêng lẻ sẽ khó theo kịp tốc độ thay đổi. Việc thực hiện song hành giúp bộ máy sẵn sàng tiếp thu cái mới, kịp thời điều chỉnh chức năng nhiệm vụ dựa trên dữ liệu và thực tiễn. Một tổ chức hành chính tinh gọn, được trang bị công nghệ hiện đại có thể “vừa chạy vừa xếp hàng” – tức vừa vận hành, vừa linh hoạt tự hoàn thiện. Kết quả là chúng ta xây dựng được một hệ thống quản trị quốc gia vừa tinh giản vừa thông minh, đủ sức đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số. Đây chính là điều kiện cần để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng vươn lên: trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Nghị quyết 57 đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu khu vực về năng lực cạnh tranh số, Chính phủ điện tử và các lĩnh vực công nghệ mới. Muốn vậy, bộ máy chính quyền phải vận hành hiệu quả trên nền tảng số, nghĩa là hai nhiệm vụ cải cách tổ chức và chuyển đổi số phải được tiến hành đồng bộ ngay từ bây giờ.
Thách thức khi thiếu sự phối hợp đồng hành
Nguy cơ “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”: Nếu hai cuộc cách mạng không đồng hành chặt chẽ, mỗi lĩnh vực đi một hướng, hiệu quả chung sẽ suy giảm đáng kể và thậm chí gây ra những hệ lụy tiêu cực. Trước hết, thiếu đổi mới công nghệ trong bộ máy tinh gọn có thể khiến bộ máy sau sắp xếp rơi vào tình trạng “giảm cơ học”: biên chế, đầu mối giảm nhưng cách làm việc cũ vẫn giữ, dẫn tới quá tải cho cán bộ còn lại và giảm chất lượng phục vụ. Ví dụ, cắt giảm đầu mối mà không số hóa quy trình sẽ khiến mỗi cán bộ phải xử lý nhiều hồ sơ giấy tờ hơn, dễ phát sinh chậm trễ, tồn đọng. Khi đó, người dân và doanh nghiệp có thể mất niềm tin nếu thấy cải cách chỉ làm khó thêm thay vì tạo thuận lợi. Nguy cơ khác là bộ máy tinh gọn sẽ thiếu “sức bật” nếu không tiếp nhận luồng sinh khí từ khoa học công nghệ. Bộ máy mới tinh giản nhưng tư duy lạc hậu, ngại đổi mới thì vẫn có thể vận hành trì trệ, không khác mấy bộ máy cũ cồng kềnh.
Ngược lại, thiếu cải cách bộ máy hỗ trợ cho cuộc cách mạng số cũng đặt ra nhiều thách thức. Công nghệ, sáng tạo dù tiên tiến đến đâu nếu rơi vào một cơ cấu tổ chức quan liêu sẽ khó phát huy. Cơ chế quản lý cũ kỹ, chồng chéo chức năng có thể “vô hiệu hóa” các giải pháp công nghệ, biến những nỗ lực chuyển đổi số thành hình thức. Thực tế cho thấy, đã có giai đoạn chủ trương phát triển khoa học công nghệ được ban hành nhưng chậm đi vào cuộc sống do bộ máy triển khai thiếu hiệu quả, tư duy quản lý chậm đổi mới. Nếu các cơ quan còn tranh chấp chức năng, thiếu phối hợp, dự án số hóa dễ bị ách tắc, dữ liệu không liên thông, thậm chí mỗi nơi đầu tư một hệ thống gây lãng phí lớn. Bên cạnh đó, khi không có sự chỉ đạo thống nhất, nguồn lực tài chính và nhân lực có thể bị phân tán: đầu tư cho công nghệ mà quên đào tạo, sắp xếp lại con người, hoặc ngược lại. Hai cuộc cách mạng tách rời nhau sẽ như hai bánh răng không ăn khớp – bộ máy cải cách mà thiếu công nghệ hỗ trợ sẽ khập khiễng, còn chuyển đổi số thiếu cải cách thể chế sẽ mất đà. Đây chính là bài học kinh nghiệm để chúng ta thấy rõ: nếu không phối hợp đồng bộ, mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại khó lòng đạt được trọn vẹn.
Giải pháp để hai cuộc cách mạng cùng thành công
Để bảo đảm tinh gọn bộ máy và phát triển KHCN, ĐMST, CĐS hỗ trợ lẫn nhau và cùng về đích, cần một cách tiếp cận chính sách toàn diện và những giải pháp thực tiễn quyết liệt, đồng bộ:
Một là, thống nhất tầm nhìn và ý chí chính trị ở mọi cấp: Trước hết, toàn Đảng và hệ thống chính trị phải có nhận thức chung rằng hai cuộc cách mạng này là nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng, cần tiến hành song hành. Như tinh thần Nghị quyết 56 nhấn mạnh, đây là cuộc cách mạng đòi hỏi “thống nhất rất cao về nhận thức và hành động trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị”. Người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị phải gương mẫu đi đầu, chỉ đạo quyết liệt cả hai mũi cải cách, tránh tình trạng nơi chú trọng tinh giản nhưng lơ là chuyển đổi số (hoặc ngược lại). Việc Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị lập các Ban Chỉ đạo do chính Tổng Bí thư làm Trưởng ban để chỉ đạo hai nghị quyết 56 và 57 cho thấy quyết tâm chính trị cao độ và sự lồng ghép chặt chẽ trong chỉ đạo chiến lược.
 |
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Ảnh: quochoi.vn) |
Hai là, đồng bộ hóa chính sách và lộ trình thực hiện: Các kế hoạch triển khai Nghị quyết 56 và 57 cần được thiết kế liên thông với nhau. Trong quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy, phải song song cải tiến quy trình nghiệp vụ sao cho phù hợp với môi trường số. Ngược lại, mọi chương trình chuyển đổi số quốc gia cũng cần tính đến yếu tố đơn giản hóa tổ chức và thủ tục. Ví dụ, khi xây dựng Chính phủ điện tử, phải đồng thời cắt giảm, hợp nhất các đầu mối xử lý, tránh số hóa một quy trình nhưng quy trình đó vẫn phức tạp như cũ. Các văn bản pháp luật, quy chế quản lý cần sửa đổi đồng bộ theo hướng vừa xóa bỏ rào cản hành chính cũ, vừa hợp pháp hóa các giải pháp công nghệ mới. Có như vậy, cải cách thể chế và ứng dụng công nghệ mới không triệt tiêu, mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu kép: Yếu tố con người đóng vai trò quyết định trong cả hai cuộc cách mạng. Cần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đa năng, am hiểu công nghệ và tinh thông quản lý hiện đại. Song song với việc tinh giản biên chế, Nhà nước phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ còn lại; tạo tâm thế sẵn sàng tiếp nhận nhiệm vụ mới trong bộ máy tinh gọn. Khuyến khích tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm trong đội ngũ cán bộ để họ tích cực đề xuất sáng kiến cải cách và áp dụng công nghệ. Đồng thời, có chính sách thu hút nhân tài công nghệ số vào làm việc trong khu vực công, hình thành lực lượng nòng cốt dẫn dắt chuyển đổi số ngay từ bên trong bộ máy.
Bốn là, đầu tư hạ tầng và công cụ hỗ trợ hiện đại: Để bộ máy tinh gọn vận hành trơn tru, phải xây dựng hạ tầng số tương xứng. Cần tăng cường đầu tư cho các hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, bảo đảm mọi cấp chính quyền được kết nối thông suốt. Nghị quyết 57 đã đề ra mục tiêu tăng mạnh tỉ lệ chi cho R&D và chuyển đổi số (đến 2030 chi cho R&D đạt 2% GDP), đây là nguồn lực quan trọng để trang bị công cụ hiện đại cho cơ quan nhà nước. Hơn nữa, nên áp dụng các giải pháp quản trị tiên tiến như chính phủ số, chính quyền thông minh. Chẳng hạn, thiết lập trung tâm điều hành thông minh, ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, triển khai họp trực tuyến và xử lý văn bản điện tử... giúp lãnh đạo điều hành kịp thời và giảm tối đa thủ tục giấy tờ. Hạ tầng và công cụ hiện đại chính là “cánh tay đắc lực” để bộ máy đã gọn nhẹ càng thêm nhanh nhạy, hiệu quả.
Năm là, giám sát, thí điểm và liên tục điều chỉnh: Cuối cùng, bảo đảm thành công cần có cơ chế giám sát chặt chẽ và kịp thời điều chỉnh trong quá trình thực hiện. Thiết lập các chỉ số đo lường cụ thể cho cả việc tinh giản bộ máy (như mức giảm đầu mối, giảm thời gian xử lý công vụ) lẫn chuyển đổi số (như tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến, mức độ hài lòng của người dân). Thường xuyên báo cáo tiến độ hai lĩnh vực song song để phát hiện điểm nghẽn nếu lĩnh vực nào chậm trễ hơn. Đặc biệt, khuyến khích thí điểm mô hình mới ở một số địa phương, bộ ngành – nơi mạnh dạn hợp nhất tổ chức đi đôi với ứng dụng công nghệ cao – để rút kinh nghiệm và nhân rộng. Sự linh hoạt trong chỉ đạo “Trung ương không chờ địa phương, địa phương không chờ cơ sở” vẫn cần đi kèm với phối hợp nhịp nhàng, tránh để nơi làm trước, nơi làm sau thiếu kết nối. Liên tục học hỏi thực tiễn tốt, điều chỉnh chính sách kịp thời sẽ giúp hai cuộc cách mạng tiến bước vững chắc, hỗ trợ lẫn nhau cùng về đích.
Kết luận: Hai cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy và đột phá phát triển KHCN, ĐMST, CĐS chính là hai động lực song song đưa đất nước ta tiến lên trên con đường phát triển mới. Chúng không thể tách rời mà cần được quán triệt thực hiện như một thể thống nhất, bởi mỗi bên là điều kiện tiền đề và là chất xúc tác cho bên kia. Việc triển khai đồng bộ sẽ tạo ra một nền hành chính nhà nước vừa tinh gọn về tổ chức, vừa mạnh mẽ về công nghệ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân trong thời đại số. Ngược lại, nếu thiếu sự phối hợp, cả hai cuộc cách mạng đều khó đạt mục tiêu và có thể tạo ra những khoảng trống, lực cản cho phát triển. Với quyết tâm chính trị cao nhất, với tầm nhìn chiến lược và các giải pháp đúng đắn, chúng ta tin tưởng rằng cả hai cuộc cách mạng sẽ thành công song hành, tạo dựng một bộ máy công quyền thật sự hiệu lực, hiệu quả và một quốc gia đổi mới sáng tạo, vững bước tiến vào tương lai. Đây vừa là mệnh lệnh từ Nghị quyết của Đảng, vừa là khát vọng chung của toàn dân tộc trên con đường xây dựng Việt Nam phồn vinh, hùng cường./.